Đi tìm mô hình kinh doanh Internet

•Tháng Một 8, 2010 • Để lại phản hồi

Từ lúc ra đời cho đến nay, hầu như tất cả các mô hình kinh doanh dựa vào Internet đều xuất phát từ giả định người tiêu dùng được hưởng miễn phí mọi dịch vụ, nhà kinh doanh tìm cách thu tiền từ quảng cáo hay từ các nguồn khác. Nhiều công ty thay nhau ra đời và thay nhau lụi tàn – trong khi cộng đồng doanh nghiệp loại này vẫn loay hoay tìm lối ra.


Cho đến nay, đã định hình một tâm lý: người ta vào Internet để hưởng các sản phẩm và dịch vụ miễn phí, từ tin tức, e-mail, lưu trữ đến chia sẻ hình ảnh, chia sẻ nội dung… Không ai nghĩ mình phải trả tiền để đọc tin trên các báo điện tử chẳng hạn. Vì thế, trong thời kỳ dot.com vào cuối những năm 1990, các công ty đủ loại hình mọc lên như nấm, tiền đầu tư từ các quỹ mạo hiểm rót vào, nhà kinh doanh không bận tâm lắm đến việc thu phí vì nghĩ cứ thu hút người ta vào với mình trước đã, chuyện lời lỗ tính sau.

Sự sụp đổ của phong trào công ty dot.com như thế vào đầu những năm 2000 chỉ làm lắng dịu tham vọng của những người lắm ý tưởng nhưng thiếu óc kinh doanh. Sau mấy năm, ý tưởng Web 2.0 lại trỗi lên, nhất là khi kết nối băng thông rộng giúp người sử dụng truy cập Internet dễ dàng và thường trực. Tuy nhiên, tâm lý “của chùa” trên mạng vẫn ngự trị. Hiện nay, trừ một số trường hợp hãn hữu như Google, hầu hết các công ty kinh doanh trên Internet vẫn không thể đưa ra một mô hình phát triển bền vững, không dựa vào việc cân đối thu chi mà chỉ trông cậy vào các nguồn đầu tư rót tiền cho họ duy trì hoạt động.

Sự thành công của Google và các loại hình dịch vụ miễn phí tương tự như Facebook, Twitter, YouTube, MySpace làm nhiều người lầm tưởng rằng doanh thu quảng cáo trên các trang miễn phí như thế sẽ là động lực phát triển lâu dài. Thật ra, chúng vẫn đang lỗ nặng nhưng nhờ bán lại cho các hãng lớn (như MySpace bán cho News Corporation, YouTube bán cho Google) nên vẫn tồn tại.

Khó khăn nhất vẫn là các tờ báo. Trong khi doanh thu từ báo in giảm mạnh do giảm lượng phát hành và quảng cáo, doanh thu từ báo mạng hầu như không đáng kể, nhiều tờ báo phải lâm vào cảnh phá sản, đóng cửa. Họ lại không thể tính tiền với người đọc qua mạng bởi tâm lý mọi thứ trên Internet đều phải miễn phí từ thời dot.com.

Có lẽ sai lầm lớn nhất của mô hình này là xem Internet chính là cứu cánh chứ không phải là phương tiện. Nếu nhìn lại những hoạt động kinh doanh mà trong đó Internet là phương tiện thì thấy lợi ích nó đem lại là vô cùng lớn lao. Ngay cả trong các khu vực phi kinh doanh như giáo dục, điều hành nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận, Internet đã giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí. Từ chuyện nhỏ như phí tem thư, phí in ấn catalog, đến chuyện lớn như hiệu quả công việc tăng lên cả trăm lần.

Bởi vậy, mô hình kinh doanh sắp tới là phải làm sao tận dụng ưu thế Internet như một phương tiện kinh doanh chứ không phải xem nó là nơi làm ra tiền. Ngành công nghệ âm nhạc, phim ảnh, sách đã đi theo hướng đó và đã dần dần định hình được thị trường như Apple với iStores, Amazon với chuyện bán sách, cho thuê phim…

Cứ hình dung thế giới không thể sống thiếu báo chí cho nên báo chí không bao giờ sụp tiệm. Vấn đề là phương thức đưa tin tức đến người sử dụng đầu cuối. Nếu trước đây là báo in phát hành theo con đường cổ điển đến tay người đọc thì nay Internet là phương tiện chuyển tin nhanh nhất, có hiệu quả nhất. Vấn đề còn lại là làm sao tính tiền nội dung được chuyển tải này, còn chuyển tải đến máy tính để bàn, máy tính xách tay hay điện thoại di động, thậm chí dụng cụ đọc chuyên biệt như Kindle, không phải là yếu tố cốt lõi.

Ở khía cạnh này, có lẽ các nước châu Á như Việt Nam lại có thể đi nhanh hơn các nước phương Tây. Đã xuất hiện các loại hình kinh doanh dựa vào chiếc máy điện thoại di động làm phương tiện thanh toán dễ dàng tiện lợi như tải nhạc chuông, tải hình ảnh.

Sắp tới ắt sẽ có chuyện bán hàng trả tiền bằng điện thoại di động. Ví dụ vào trang mua hoa giao tận nhà, người ta chọn hoa, chọn mã hàng, xong rồi điền thông tin địa chỉ cần gửi, còn đến khâu thanh toán, họ sẽ dùng điện thoại di động bấm vào số mà chủ trang web cung cấp để được trừ tiền mua hoa. Mô hình như thế có thể áp dụng cho mọi loại giao dịch thông thường như mua sách, thuê DVD, mua pizza, đủ loại.

Nếu ngày xưa thương mại điện tử không thể cất cánh ở những nước như Việt Nam vì hệ thống chi trả không bảo đảm, không phổ biến thì ngày nay hàng chục triệu chiếc điện thoại di động có thể đóng vai trò tài khoản chuyển dịch dễ dàng từ người mua đến người bán. Có lẽ sẽ đến cái ngày chúng ta sẵn lòng bị trừ một khoản tiền rất nhỏ bằng một tin nhắn để được đọc một tin nóng hổi, độc quyền của một tờ báo nào đó.

Các thương hiệu đồ ăn nhanh: thành công không đơn giản chỉ nhờ logo

•Tháng Một 5, 2010 • Để lại phản hồi

Đồ ăn nhanh là một trong những mô hình kinh doanh thành công nhất trên thế giới. Một trong những lý do để các tập đoàn đồ ăn nhanh hàng đầu thành công được chính là sức bền thương hiệu của họ – khả năng quản lý thương hiệu.

Mcdonald logo

Trong kinh doanh đồ ăn nhanh, mặc dù logo của tập đoàn rất cần được “chăm chút” cẩn thận nhưng bên cạnh đó cũng phải kể đến những yếu tố bổ sung khác như màu sắc, ký hiệu, kiểu dáng, cách vận chuyển, nhà hàng, đồng phục, các sản phẩm, dịch vụ, giá cả, xúc tiến, quảng cáo, áp phích quảng cáo dán cửa sổ, và thậm chí là chất liệu của giấy gói thức ăn, và tất cả những phụ gia khác.

Nhà hàng Subway đứng đầu trong bảng xếp hạng “Global Franchise Opportunity for 2009″ do tạp chí kinh doanh nổi tiếng Entrepreneur bình chọn đã có hơn 30.5000 cửa hàng ở 87 quốc gia trên thế giới. Hãy thử tưởng tượng xem điều gì có thể điều khiển mọi khía cạnh của thương hiệu Subway ở mọi cửa hàng đồ ăn nhanh toàn cầu.

“Đồ ăn nhanh đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khác nhau trong xây dựng thương hiệu”. Gary Findley, CEO của the Findley Group, ở Franchising Worl nói. “Việc cân bằng đồng dạng thương hiệu trong khi đánh gia cao tính độc lập của các hãng đồ ăn nhanh và quy định thông điệp thương hiệu trong khi hướng tới khách hàng địa phương một cách hiệu quả là hai trong số những khó khăn nhất mà kinh doanh đồ ăn nhanh đang phải đối mặt.”

Findley tin rằng cách duy nhất để điều kiển thương hiệu chính là thông qua RQM – repetitive quality marketing (tiếp thị chất lượng lặp đi lặp lại). “Ở RQM, sự lặp đi lặp lại đang duy trì tính lâu dài và kiên định với các thông điệp marketing.” Findley nói. “Trong RQM, toàn bộ các mục tiêu được duy trì trước sau như một. Tính kiên định trong chiến dịch marketing không chỉ làm mạnh thêm sự nhận dạng thương hiệu mà nó còn dẫn tới sự phát triển tích cực cho doanh nghiệp.”

Tuy nhiên, trong thế giới đồ ăn nhanh, tính kiên định marketing đảm nhiệm toàn bộ những ý nghĩMacdonald logoa mới”….Marketing nắm mọi thứ trong hoạt động kinh doanh”. Findley nói, “từ thiết kế ở trên các tiêu đề phòng tắm tới các miếng vá ở quần jeans của người bán hàng và bất cứ thứ gì khách hàng có thể nhìn thấy, sờ được, nghe thấy hoặc ngửi thấy…mà chúng có thể ảnh hưởng tới hình ảnh thương hiệu.”

Đối với các tập đoàn đồ ăn nhanh lớn, nhỏ giống nhau, việc đào tạo giá trị của thương hiệu thường là bước quan trọng đầu tiên. Taylor Bond, CEO và chủ tịch của Children’s Orchard, giải thích “Chúng tôi đã cực kỳ chú trọng đến việc truyền đạt “Bức tranh của giá trị”. Điều đó có nghĩa là chúng tôi đã làm mọi thứ trong phạm vi hiểu biết có thể để giúp chủ công ty kinh doanh đồ ăn nhanh hiểu được rằng thương hiệu là một phần thị trường. Chúng tôi giải thích rằng thương hiệu là một thông điệp trí tuệ, một bức tranh mà khách hàng kết nối với cửa hàng của họ.” “Các chủ cửa hàng đồ ăn nhanh nhỏ nên chú ý đến thành công của các thương hiệu lớn toàn cầu để hiểu và nắm trọn giá trị của thương hiệu. Điều đó thực sự quan trọng để gắn chặt thương hiệu với giá trị của doanh nghiệp.” Bond nói

KFC logo

rên quy mô lớn, hiểu một cách phức tạp trong kinh doanh đồ ăn nhanh, các chủ doanh nghiệp duy trì sự kiểm soát thương hiệu thông qua các phương tiện khác nhau bao gồm các chương trình đào tạo, hướng dẫn thương hiệu cho nhân viên, đóng gói và các chiến dịch marketing.

Cung cấp những hướng dẫn về thương hiệu không phải là việc khó nhưng để họ hiểu được cả một hệ thống thì là câu chuyện khác. ‘Trong khi nhiều hệ thống đồ ăn nhanh cung cấp cho nhân viên của họ những hướng dẫn về cách sử dụng logo, các ký hiệu và quảng cáo, thì nhiều nhân viên lại không thể hiểu hết được”. Nikki Sells, Phó chủ tịch của Express Personnel Services, ở Franchising World. “Điều này giải thích tại sao một khách hàng có thể hiểu theo cách này tới cách khác và có những trải nghiệm khác nhau về thương hiệu. Việc làm rõ các hướng dẫn sẽ không chỉ giúp nhân viên hiểu đúng sự thật về thương hiệu khi tiếp thị mà cũng cung cấp cho họ những trải nhiệm khách hàng”. Sells nói rằng điều đó có thể giúp cho các cuộc khảo sát khách hàng trực tuyến và nhóm khách hàng trọng tâm nhận ra được sự trung thành với các tiêu chuẩn thương hiệu.

Tất cả những điều trên giải thích tại sao các chủ hãng đồ ăn nhanh toàn cầu như SubWay và McDonald’s coi nhân viên là một phần trong việc xây dựng thương hiệu. McDonald’s yêu cầu nhà hàng của họ phải dành tối thiểu là 4% doanh số bán hàng hằng năm cho việc xúc tiến và quảng cáo doanh nghiệp. Chủ cửa hàng làm việc với các công ty địa phương để đặt quảng cáo và trong một số trường hợp họ giới thiệu một số lợi ích của sản phẩm. McDonald’s cũng khuyến khích các chủ cửa hàng đưa ra các phản hồi và ý tưởng để có thể đem lại những lợi ích cho toàn bộ hệ thống, the Big Mac, Egg McMuffin and Filet-o-Fish sandwiches cũng được phát triển bởi các chủ cửa hàng

Việc xây dựng các thương hiệu quốc tế thực sự rất khó khăn. Ngôn ngữ và vấn đề văn hóa là thách thức vô cùng lớn. Đối với hệ thống đồ ăn nhanh, sở thích của từng địa phương cũng đòi hỏi cách thức nấu riêng. Chẳng hạn, McDonald’s có cửa hàng ở Ấn Độ nhưng ở đó không ăn thịt bò. Thay vào đó, hệ thống này đưa ra sự lựa chọn về rau và thực đơn không rau, thực đơn không rau gồm có gà và cá. Các sản phẩm được gọi tên theo khái niệm thương hiệu McDonald’s nhưng theo từng nước: McVeggie, McAloo Tikki, Shahi Paneer McCurry Pan và Veg Pizza McPuff.

Các chủ nhà hàng KFC, Pizza Hut và Taco Bell rất thích việc bành chướng thương hiệu ra thế giới. Các doanh nghiệp KFC ở Pháp phát triển mạnh nhất trong hệ thống KFC trên thế giới. Trong 4 năm gần đây, thương hiệu, Pizza Hut đạt vị trí số 1 trong số các thương hiệu được tin tưởng ở Ấn Độ (theo cuộc khảo sát của The Economic Times)

Tại Trung Quốc, KFC có hơn 2300 nhà hàng và dẫn dầu trong số các thương hiệu đồ ăn nhanh trong khi đó Pizza Hut có 400 cửa hàng nhưng lại dẫn đầu về thương hiệu đồ ăn nhanh phục vụ tối.

Dù vẫn còn đầy những khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu toàn cầu nhưng cơ hội kinh doanh cho các hãng đồ ăn nhanh là vô song. Kiểm soát thương hiệu của họ qua hàng ngàn địa điểm là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thành công của hệ thống đồ ăn nhanh và nó cũng giải thích tại sao thương hiệu của họ được nhận ra trên toàn thế giới.

Theo Nguoilanhdao / Brandchannel

Quy trình xây dựng thương hiệu

•Tháng Mười Một 5, 2009 • Để lại phản hồi

Quy trình thương hiệu có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau đây:

Sơ đồ quy trình XDTH

Quy trình xây dựng thương hiệu được bắt đầu bằng công đoạn Nghiên cứu marketing. Đây là một bước chuẩn bị cần thiết, gần như không thể thiếu đối với công tác xây dựng thương hiệu hay bất kỳ một chuyên gia thương hiệu nào.

Để thiết lập được hệ thống thông tin này, doanh nghiệp có thể sử dụng một số công ty dịch vụ bên ngoài (agency) hoặc tự làm bằng cách thực hiện nghiên cứu marketing bằng một số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu định tính (Focus group, Face to Face), phương pháp nghiên cứu định lượng dựa vào bản câu hỏi và đồng thời khảo sát, đánh giá lại nguồn nội lực.

Khi đã thiết lập hệ thống thông tin marketing và phân tích, đánh giá thông tin thì công việc tiếp theo là xây dựng Tầm nhìn thương hiệu. Đây là một thông điệp ngắn gọn và xuyên suốt, định hướng hoạt động của công ty đồng thời cũng định hướng phát triển cho thương hiệu, sản phẩm qua phân tích định vị giữa hiện tại và tương lai. Một cách ngắn gọn, Tầm nhìn thương hiệu thể hiện lý do cho sự hiện hữu của doanh nghiệp.

Tầm nhìn hương hiệu có một số vai trò như:

•Thống nhất mục đích phát triển của doanh nghiệp và tạo sự  nhất quán trong lãnh đạo,
•Định hướng sử dụng nguồn lực,
•Xây dựng thước đo cho sự phát triển thương hiệu và tạo tiền đề cho việc xây dựng các mục tiêu phát triển,
•Động viên nhân viên hướng tới mục đích phát triển chung.
Một số điển hình về Tầm nhìn thương hiệu như:
•“Khách sạn Ritz-Carlton là nơi mà sự quan tâm sâu sắc và sự thoải mái của khách hàng là sứ mạng cao cả nhất của chúng ta. Chúng ta nguyện sẽ cung cấp phục vụ cá nhân tuyệt hảo nhất và cơ sở vật chất tốt nhất cho khách hàng. Cảm nhận Ritz-Carlton làm thức dậy các giác quan, đem lại sức khoẻ, đáp ứng ngay cả những ước muốn không diễn tả và nhu cầu của khách hàng chúng ta”.

•“Tại IBM, chúng ta phấn đấu để dẫn đầu trong việc sáng tạo, phát triển và sản xuất công nghệ thông tin hàng đầu, bao gồm hệ thống máy tính, phần mềm, hệ thống mạng, dự trữ dữ liệu và các thiết bị điện tử. Chúng ta chuyển đổi những khoa học kỹ thuật vượt trội này thành lợi ích cho khách hàng bằng những giải pháp chuyên nghiệp và phục vụ doanh nghiệp trên toàn cầu”.

Bước tiếp theo sau khi đã xây dựng Tầm nhìn thương hiệu là Hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu.

Trên cơ sở chiến lược phát triển thương hiệu đã lựa chọn tiến hành Định vị thương hiệu. Định vị thương hiệu được hiểu là xác định vị trí của thương hiệu đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường được nhận thức bởi người tiêu dùng.

positioning1

Có 08 bước để thực hiện định vị thương hiệu như sau:

•Xác định môi trường cạnh tranh. Là xác định tình hình cạnh tranh trên thị trường và hoạt động của đối thủ cạnh tranh.
•Xác định khách hàng mục tiêu.
•Thấu hiểu khách hàng. Là yếu tố rút ra từ sự thấu hiểu sâu sắc tâm lý khách hàng trong nhu cầu và thói quen sử dụng sản phẩm.
•Xác định lợi ích sản phẩm (bao gồm những lợi ích về mặt chức năng cũng như mặt cảm tính mà thúc đẩy hành vi mua hàng).
•Xác định tính cách thương hiệu. Là những yếu tố được xây dựng cho thương hiệu dựa trên sự tham chiếu tính cách một con người.
•Xác định lý do tin tưởng. Là những lý do đã được chứng minh để thuyết phục khách hàng có thể tin tưởng vào thương hiệu.
•Xác định sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, và chính đặc điểm này mà khách hàng chọn thương hiệu này chứ không phải thương hiệu khác như đã trình bày phía trên.
•Xác định những tinh tuý, cốt lõi của thương hiệu.

Sau khi đã Định vị thương hiệu, bước tiếp theo là Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu. Đây là tập hợp những liên tưởng mà một doanh nghiệp muốn đọng lại trong tâm tưởng của khách hàng thông qua sản phẩm (chủng loại, đặc tính, chất lượng và giá trị sản phẩm, cách sử dụng, người sử dụng và nguồn gốc sản phẩm), công ty (những giá trị văn hoá hay triết lý kinh doanh), con người (hình ảnh nhân viên, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài) và biểu tượng (tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc hiệu, hình tượng, kiểu dáng và mẫu mã). Tiếp theo là tiến hành thiết kế thương hiệu, bao gồm: đặt tên, thiết kế logo, biểu tượng, nhạc hiệu, câu khẩu hiệu và bao bì.

Nếu chỉ xây dựng thôi thì chưa đủ, thương hiệu phải được mọi người biết đến, hiểu nó và chấp nhận nó. Đây là vấn đề cốt lõi dẫn đến sự thành công của công tác xây dựng thương hiệu. Do đó, xây dựng thương hiệu chỉ mới dừng lại ở trong nội bộ thì chưa hoàn thành mà phải thực hiện các Hoạt động truyền thông thương hiệu với thị trường thì thương hiệu mới đi đến được tâm trí khách hàng.

Bước tiếp theo và cuối cùng trong một chu trình xây dựng thương hiệu là Đánh giá thương hiệu. Việc đánh giá thương hiệu thông qua mức độ nhận biết thương hiệu, mức độ nhận thức giá trị sản phẩm và sự liên tưởng rõ ràng trong tâm thức của khách hàng, đặc biệt là mức độ trung thành với thương hiệu (nên sử dụng các công cụ trong nghiên cứu marketing). Bên cạnh đó, việc đánh giá thương hiệu cũng căn cứ vào mức độ tăng doanh số mà thương hiệu đã đóng góp vào kết hợp với những chi phí đã bỏ ra

Thiết kế quảng cáo e-mail

•Tháng Mười Một 5, 2009 • Để lại phản hồi

Trong thế giới quảng cáo, muốn nổi bật, các thiết kế của bạn phải hoàn hảo về bề ngoài và hiệu quả về nội dung.

Phần lớn những nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo trên e-mail đều gợi ý những mẫu thiết kế có sẵn từ trước để bạn chọn lựa. Tuy nhiên, thậm chí với những mẫu thiết kế này, bạn vẫn phải đưa ra những quyết định, đại loại như: sử dụng màu và phông chữ nào, cỡ chữ nào thì ổn, nội dung bao nhiêu thì vừa, hoặc đặt tên thế nào cho hợp lí. Hãy làm theo 9 mẹo nhỏ dưới đây và bạn sẽ tạo ra được những e-mail không chỉ đẹp mắt mà còn mang lại hiệu quả cao.

9 mẹo thiết kế email hiệu quả

logo

1. Đưa logo của bạn vào cùng một vị trí: Hãy xây dựng nhãn hiệu cùng với mọi địa chỉ quảng cáo mà bạn gửi. Một cách để làm được điều này là đưa logo của bạn vào tất cả các giao dịch qua e-mail. Sự thực hiện tốt nhất là gắn nó vào cùng một vị trí mỗi lần gửi mail. Nó có thể ở trên hoặc ở bất kì chỗ nào trong mail.

2. Đừng quên quảng cáo nút bấm: Một nghiên cứu gần đây của Marketing Sherpa đã chỉ ra rằng 70% người nhận có khả năng đọc e-mail thông qua các phần nhỏ của quảng cáo. Điều đó có nghĩa là những người đăng nhập có lẽ chỉ nhìn thấy một phần e-mail của bạn trước khi quyết định mở hoặc nhìn vào tổng thể. Hãy chắc chắn rằng, logo cũng như những thông tin lôi cuốn về nội dung e-mail của bạn có thể được nhìn thông qua phần nhỏ của quảng cáo.

3. Sử dụng màu sắc để gây ấn tượng: Nếu màu sắc có thể cám dỗ bạn trong việc sử dụng để thiết kế e-mail, hãy hạn chế ngay. Khi quyết định màu sắc nào sẽ được sử dụng, hãy bắt đầu với màu sắc của công ty. Tất cả các e-mail nên thể hiện đúng nhãn hiệu thực sự của bạn, và một yếu tố cốt yếu là sử dụng màu sắc đồng nhất với nhau. Những màu sắc bên ngoài nhãn hiệu nên được dành cho việc gây ấn tưọng. Hãy dùng những màu đó để thu hút sự chú ý đối với một vài yếu tố quan trọng trong e-mail để khiến nó thực sự nổi bật đối với người đọc.

4. Hạn chế số lượng phông chữ: Một nguyên tắc cơ bản là sử dụng cỡ lớn nhất của 2 kiểu chữ trong những e-mail quảng cáo. Bạn có thể dùng phông này cho phần chính và phông khác cho tiêu đề hoặc tiêu đề phụ. Hãy dùng các phông chuẩn như Arial, Times New Roman hoặc Verdana. Nếu bạn dùng loại phông chữ không mấy phổ biến, máy vi tính của họ sẽ thực hiện sự thay thế có thể làm thay đổi hiện trạng e-mail.

5. Các ý rõ ràng và dễ hiểu: Sự thật là phần lớn mọi người đều đọc lướt. Họ không dành cho bạn quá một giây để chú ý. Nếu phải mất nhiều hơn một giây, họ sẽ bỏ qua e-mail của bạn.

email_icon_by_bisiobisio

6. Chọn những bức ảnh hỗ trợ cho thông điệp quảng cáo: Việc gắn vào e-mail những bức hình có thể khiến chúng càng lôi cuốn và giúp bạn chuyển tải thông điệp nhanh hơn. Một bức ảnh đáng giá ngàn lời! Tuy nhiên điều đó không phải luôn đúng với mọi trường hợp. Nếu bức ảnh chất lượng tồi, nó sẽ làm người đọc mất tập trung và tác động xấu đến công việc kinh doanh. Khi chọn lựa hình ảnh cho chiến dịch, hãy tìm kiếm những gì đơn giản và dễ dàng chú ý cũng như liên hệ trực tiếp tới nội dung bên trong. Bạn có muốn người đọc nhìn vào một hình ảnh và tự hỏi họ phải làm gì với thông điệp của bạn không? Nếu những hình ảnh không hỗ trợ cho thông điệp, nó sẽ ra khỏi những gì bạn đang cố gắng gửi gắm.

7. Không nên lồng phần chính trong một hình ảnh: Rất nhiều chương trình mọi người dùng để nhận hoặc đọc e-mail có những hình ảnh bị tắt bởi các chương trình tự chọn trong máy vi tính. Để chắc chắn rằng những người cài đặt chế độ này trong máy sẽ nhận được thông điệp của bạn, hãy cho vào phần chính trong mail của bạn và không được lồng trong hình ảnh.

8. Học cách yêu các khoảng trắng: Khoảng trắng là gì? Đó là nơi thư  giãn cho mắt người đọc. Hãy đảm bảo rằng bạn để nhiều chỗ trống ở giữa những tiêu đề, các bài báo và bất kì nội dung gì bạn cho vào mail của mình.

9. Đơn giản: Trong thiết kế, càng hạn chế nội dung càng tốt. Những e-mail không lộn xộn và có thông điệp rõ ràng sẽ tạo được sự phản hồi tốt hơn. Mục tiêu của email là buộc người đọc phải hành động. Bạn muốn họ thăm website, mua ngay và tìm kiếm thông tin nhiều hơn và rất nhiều điều khác nữa. Cho nên, nó phải được thiết kế chất lượng để khiến người đọc chú ý nhiều hơn và giúp họ thấy dễ dàng hành động theo như ý muốn của bạn.

7 Ý TƯỞNG CHÍN MỌNG

•Tháng Mười Một 5, 2009 • Để lại phản hồi

1. Tóc gió thôi bay

Đâu cần phải có tóc khi quảng cáo dầu gội đầu! Almapbbdo, một nhãn dầu gội của Brazil đã chứng minh điều đó khi sử dụng hình ảnh những quả cam, quả táo chín mộng thay cho những cô người mẫu với mái tóc dài thướt tha. Thật ấn tượng phải không nào!
Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

www.coloribus.com

2. Những lát cắt của mùa hè

Mẫu bao bì của Kleenex – KC USA với chủ đề “Slice of Summer” đã vinh dự giành giải kim cương trong cuộc thi Best of The Show 2009. Hãy cùng TYM chiêm ngưỡng một chút nào!
Photobucket
Photobucket
popsop.com

3. Những sợi chỉ màu

Colgate Palmolive – Panama – đã giới thiệu sản phẩm chỉ nha khoa của mình có thể giải quyết cả các loại thực phẩm màu như trái cây. Để xem họ làm như thế nào nhé!
Photobucket
Photobucket
theinspirationroom.com

4. Những con vật đáng yêu

Để quảng cáo cho các sản phẩm trái cây của mình, hệ thống siêu thị bán lẻ Esselunga của Ý đã sinh động hóa chúng thành những con vật ngộ nghĩnh như thế này đây!
Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

www.adsideas.com

5. Sợ gì bẩn nào

Với hình ảnh những quả táo và dưa leo đã được gọt vỏ hết sức đơn giản, Jiajia – dung dịch rửa rau quả của Trung Quốc đã dễ dàng thể hiện được thông điệp “Remove the pee” của mình rồi!
Photobucket
Photobucket
www.littleredbook.cn

6. Mccafé

Thật không khó để bạn liên tưởng từ hạt café đết chiếc bánh hamburger của Mcdonnal phải không! Đây là print ads dùng để giới thiệu sản phẩm mới Mccafé – Café rất Mccdonnal!
Photobucket
www.yowazzup.com

7. Uống trái cây nhé!

Còn gì bằng khi một hợp nước trái cây lại trông ngon mắt như thế này! Còn chờ gì mà không thử phải không bạn!
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Những ý tưởng có thể rất đơn giản cũng có thể rất phức tạp. Đôi khi bạn cũng không ngờ từ một hình ảnh chẳng hề liên quan đến sản phẩm của mình lại có thể tạo nên một tuyệt tác quảng cáo lạ kỳ! Hãy thử xem nhé, các bạn marketers!

Giả phẫu con người kinh doanh

•Tháng Mười Một 4, 2009 • Để lại phản hồi

Kinh doanh trong từ điển tiếng Việt có nghĩa là mở mang buôn bán, doanh nhân là người làm ăn buôn bán. Cho nên một người được coi là doanh nhân là một người luôn có tư tưởng tìm ra một cơ hội buôn bán đem sản phẩm đến tay người tiêu dùng và thu tiền về túi mình. Trong thực tế có nhiều nhà sản xuất ban đầu chỉ thuần sản xuất và giao lại quyền buôn bán phân phối cho người khác sau lại tự  mình buôn bán. Ngược lại có người tự mình buôn bán rồi sau có cơ hội chuyển giao công nghệ lại kiêm luôn việc sản xuất. Một nền kinh tế mạnh là một nên kinh tế dụa trên sự phát triển của sản xuất và buôn bán.

marketing-strategy-win-new-clients1

Vậy một người có đầu óc kinh doanh là một người luôn tìm kiếm cơ hội để buôn bán thứ gì đó kiếm ra tiền, họ luôn suy nghĩ phải buôn cái gì bán cái gì thì ra tiền, đáp ứng thứ gì đó cho thị trường. Với một thế giới phát triển và mở rộng buôn bán ngoài sản phẩm còn có dịch vụ và hàng triệu thứ để buôn bán…..

Bộ não: những người kinh doanh luôn luôn vận động để tìm ra cơ hội buôn bán và không phải tìm ra rồi là họ dừng lại mà lại tiếp tục suy nghĩ làm thế nào để bán được nhiều bán được lâu và điều đó đem lại cho họ tư duy kinh doanh và kỹ năng về kinh doanh. Doanh nhân phân biệt với người lao động là sự chủ động chứ không phải chấp nhận làm công việc mà người khác thuê mướn mình.

Về thân thể: họ là người ưa vận động tìm ra cơ hội, không có một cơ hội nào là mười mươi, mà cơ hội thường hé lộ thực sự khi ta bắt đầu bỏ sức khai quật nó, đôi khi cơ hội là một sự khác biệt trong suy nghĩ của số đông, thường không có vận may nhiều cho doanh nhân mà để đón được cơ hội có lẽ họ đã trả giá bằng nhiều thất bại.

Về tư tưởng: họ không sợ sai, không ngại khó và không sợ bị từ trối, chỉ có trong cái sai mới tìm ra cái đúng, nếu ai cũng sợ sai và làm theo khuôn mẫu thì không có cơ hội tìm ra cái mới mẻ hay sự độc quyền. Thế giới không vận động là thế giới chết.

Về tri thức: con đường doanh nhân là sự học hỏi cả cuộc đời để thích ứng với sự thay đổi của cuộc sống và thị trường để thích ứng với những công cụ và cách thức mới của xã hội, cho đến khi đã chủ động về tài chính và làm chủ ước mơ. Không ngừng nâng cao nhân thức là con đường dài nhất của doanh nhân.

Nếu bạn đã thực sự chọn con đường kinh doanh thì hãy đừng bỏ cuộc, vì nếu dừng lại bạn không bao giờ chở về vạch đích mà bạn đã có thêm năng lực và kinh nghiệm để đua một cuộc đua dài hơn trong đời. Đừng từ bỏ, dừng lại bạn vẫn ở đó bước tiếp bạn mới tìm ra chính mình.

Năm chiến lược dẫn đường hiệu quả marketing

•Tháng Mười Một 3, 2009 • Để lại phản hồi

Với sự gia tăng mạnh mẽ các kênh kỹ thuật số, marketing đang trải qua một giai đoạn phát triển bùng nổ. Như một kết quả, các marketer tại các tổ chức đang phát triển đang phải điều chỉnh lại những nỗ lực của họ và tập chung nhiều hơn cho hoạt động marketing.

PR1

Để và đáp lại và xác định hỗn hợp marketing phù hợp trong môi trường mới, các marketer phải tìm ra một phương pháp mới tới tìm ra cách gây hưởng lên khách hàng tiềm năng và khách hàng hiện tại. Nếu làm được như vậy, các marketer có thể tối đa hóa hiệu quả marketing và lợi nhuận trên chi phí đầu tư.

Năm chiến lược chính cần cho việc đo lường hiệu quả marketing. Hãy để mắt đến chúng, cùng các thủ thuật thực hiện và cách thức để vượt qua những thử thách thông thường nhất mà các marketer phải đối mặt trong quá trình thực hiện chiến lược.

1. Lập kế hoạch trước và thiết kế cơ cấu thẩm quyền thực hiện để hỗ trợ toàn bộ các kênh.

Nhiều tổ chức xem việc đo lường marketing như một ý nghĩ đến sau việc hoạch định chiến dịch. Tuy nhiên, việc đo lường và liên tục phản hồi là hai bước quan trọng trong quy trình hoạch định chiến dịch. Lên kế hoạch trước đảm bảo cho những điều kiện kiểm tra và giám sát đạt được sự phù hợp.

Mỗi kênh khác nhau đòi hỏi những kỹ thuật giám sát khác nhau, nhưng có một số vấn đề phổ biến cần được cân nhắc:

  • Loại chiến dịch nào sẽ được giám sát?
  • Đưa các chiến dịch và hoạt động truyền đạt trên toàn kênh vào trong một chương trình đơn lẻ như thế nào?
  • Những thông tin nào có khả năng làm cho một phản hổi trở nên phù hợp?
  • Những dự liệu biến đổi sẽ được quản lý như thế nào cho các chiến dịch marketing trực tiếp và gián tiếp?

Khi một chương trình sử dụng nhiều kênh, cần phân cấp các chiến dịch cho mỗi kênh phù hợp, từ đó đảm bảo sự đo lường hướng đến mục tiêu kinh doanh. Mỗi cấp độ trong hệ thống phân cấp nên được xác định rõ ràng và những người thực hiện phải hiểu rõ nó trước khi bắt tay vào thực hiện chiến dịch.

2. Lập ra nhóm kiểm soát nhằm đo lường chính xác hơn sức nâng của chiến dịch.

Với sự phát triển của các kênh truyền thông kỹ thuật số, việc xác định tiêu chuẩn nhóm kiểm soát trên toàn bộ các kênh trong suốt quá trình hoạch định ngày càng quan trọng. Làm như vậy để đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các phân đoạn trên mọi khía cạnh, điều này sẽ cho phép tính toán chính xác các kết quả về mặt lợi nhuận.

Việc thiếu một quy trình hoạch định có kiếm soát thường xuyên hạn chế khả năng của marketer trong việc thiết kế và thực hiện các chiến dịch toàn kênh. Xác định các nhóm kiểm soát giúp đo lường hiệu quả của chiến quả của chiến dịch. Những tổ chức thực hiện việc lên kế hoạch cho các chiến dịch và có công cụ đo lường có thể tổ chức và quản lý các nhóm kiểm soát hiệu quả hơn nhiều.

marketing_marketingchienluoclagi_01

3. Xác định các phương pháp đo lường thích hợp.

Các tổ chức phải xác định những thông số và tiêu chuẩn đo lường phù hợp, quan tâm đến việc phác thảo một hệ thống các thông số phù hợp với chiến lược chung và cung cấp dữ liệu có ý nghĩa cho những người thực hiện chính. Các thông số phải liên quan đến hoạt động marketing, kết quả tài chính, và mức độ tác động lên người tiêu dùng.

Một hệ thống thông số tốt được cho phép hiểu được mối liên hệ tương quan giữa các chiến dịch marketing tới xác định các mục tiêu chung. Ngoài ra, nó những không giới hạn sự đo lường các kết quả cơ bản mà còn mở rộng sang cả các kết quả tài chính và những thông số giá trị khách hàng.

4. Xác định các giới hạn về quyền hạn.

Các giới hạn về quyền hạn chính là phạm vi chức năng của hệ thống mục tiêu, các kênh phản hồi và hoạt động truyền đạt với thế giới bên ngoài. Dưới đây là một số định hướng phát triển các giới hạn về quyền hạn.

  • Thiết kế và áp dụng các giới hạn cho tất cả các kênh trong một chiến dịch hay một chương trình.
  • Phải hiểu rằng việc theo dõi phản hồi từ người tiêu dùng có thể cần phải có một vài thử nghiệm và sẽ có sai sót.
  • Tập trung nhiều hơn vào các giới hạn chung, hạn chế sự quan tâm cho các giới hạn được thiết kế để quản lý một số nhỏ các phản hồi.
  • Kiểm tra và áp dụng các giới hạn cho mỗi chiến dịch, bởi vì những chiến dịch khác nhau có thể cần cách vận hành khác nhau.
  • Áp dụng phương pháp thác nước nhằm mục đích làm cho các phản hồi trở nên phù hợp hơn, từ đó các giới hạn phù hợp sẽ được ưu tiên áp dụng cao hơn.

Đối với các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, việc xác định các giới hạn phù hợp có khả năng bao phủ toàn bộ các phản hồi là yếu tố mang tính chất sống còn.  Những giới hạn khác nhau có thể được áp dụng, bởi vì các chiến dịch có thể có trách nhiệm tích lũy các phản hồi.

Cảm nhận đầu tiên: Chiến dịch đầu tiên nhận được sự tán thưởng nhờ các phản hồi.

Cảm nhận cuối cùng: Chiến dịch cuối cùng nhận được sự tán thưởng nhờ các phản hồi.

Phân bổ ngang bằng: Tất cả các chiến dịch đều nhận được sự tin tưởng như nhau.

Phân bổ trọng điểm: Sự tin tưởng được chia đều cho các chiến dịch từ điểm xuất phát là một phân bổ trọng điểm.

5. Tự động hóa và sử dụng công cụ báo cáo, phân tích.

Các tổ chức có thể sử dụng nhiều công cụ để tự động hóa các công đoạn trong quy trình giám sát và báo cáo. Những công cụ này có thể được định hình tới giám sát các thông số đã chọn theo một chu kỳ cụ thể và mang về các báo cáo hoặc các biểu đồ, những thứ được tiêu thụ bởi một lượng lớn hoặc nhỏ các khán giả.

Điểm chính ở đây là, quá trình phản hồi mang lại một lượng lớn các thông tin rất đa dạng, cần áp dụng các giới hạn quyền hạn và các kết quả đo lường để xác định các thông tin hữu ích. Tuy nhiên, việc này thực sự là một thử thách đối với các tổ chức bởi sự khổng lồ của khối lượng thông tin được thu thập từ các chiến dịch, các kênh truyền thông và các phân khúc. Theo đó, tự động hóa chỉ có ý nghĩa trong một phạm vi thiết yếu.

Thực hiện các chiến lược trên cho phép các marketer có được sự hiểu biết quan trọng trong việc thực hiện marketing, về hiệu quả của các kênh truyền thông và sự tác động qua lại giữa các kênh này. Nó cũng giúp các tổ chức đưa ra các quyết định chi tiêu tiêu cho marketing, cũng như sự đầu tư hợp lý cho tất cả các kênh.

Email, chất lượng quan trọng chứ không phải số lượng

•Tháng Mười Một 3, 2009 • Để lại phản hồi

Mọi thứ về email marketing là chất lượng: Chất lượng nội dung và chất lượng danh sách địa chỉ email. Nó đơn giản không phải là quẳng nội dung vào một email và rồi gửi nó tới một danh sách lớn các địa chỉ email chưa được lựa chọn.

Globe Icon: Email

Giữ cho nội dung đơn giản và có giá trị là yếu tố then chốt trong việc phác thảo một thông điệp email chất lượng. Cố gắng nhét những thông tin vô ích vào một thông điệp email sẽ mang đến cho người nhận một ít lựa chọn, nhưng có thể dễ dàng bỏ qua với một cú click chuột vào “next”, “delete” hoặc thậm chí là tệ hơn là “spam”.

Dưới đây là một vài thủ thuật nhỏ giúp nâng cao chất lượng khi thiết kế nội dung của một email marketing.

Tập trung tạo ra sự tương thích và giá trị.

Luôn hỏi, “khán giả của tôi có thực sự đánh giá cao những gì tôi gửi cho họ?” Giữ cho bố cục luôn rõ ràng và dễ dàng cho việc sử lý thông điệp.

Nghĩ về sườn của chiếc xe buýt.

Thiết kế nội dung giống như bạn dự đính thiết kế nó để trình bày trên sườn của một chiếc xe buýt trong thành phố và mọi người sẽ nhận ra nó khi mà chiếc xe buýt chạy qua khá nhanh. Giống như một quảng cáo trên chiếc xe buýt đang chạy, thông điệp của bạn có thể chỉ dành được sự chú ý của mọi người trong một hoặc hai giây. Hãy đảm bảo rằng, nó được thể hiện tốt để mọi người có thể dễ dàng nhận thấy những gì bạn cung cấp và cách họ có thể liên hệ với bạn.

Cung cấp những thông tin tốt nhất chứ không phải tất cả.

Khi gửi các email có nôi dung dựa trên một bài báo, cố gắng đừng mang cả bài báo vào đó; chỉ cung cấp những đoạn trích ngắn cho thấy sự quan trọng cùng với một link liên kết với bài báo đó trên website của bạn.

email-den

Chỉ sử dụng những địa chỉ email có giá trị.

Giữ cho danh sách địa chỉ email chỉ gồm những địa chỉ thực sự đánh giá cao nội dung email của bạn. Đây là những địa chỉ biết bạn là người gửi email cho họ, và tại sao họ nhận email. Họ thích thú trong việc mở thông điệp của bạn và đọc những gì bạn phải viết trong đó.

Gửi email đến một lượng khán giả quá lớn có thể thường dẫn đến những yếu kém trong việc phát tán – do lượng địa chỉ không có giá trị quá cao và những than phiền do không muốn nhận email (spam). Luôn nhớ rằng, một khi hiệu quả phát tán đi xuống, khả năng với tới khán giả nhỏ hơn.

Xây dựng danh sách của bạn liên tục vơi từng địa chỉ một.

Để có thể xây dựng một danh sách email chất lượng, yếu tố then chốt là mời những khán giả tiềm năng điền vào một mẫu xác nhận, trong đó nhấn mạnh lợi ích của việc trở thành thành viên. Gia tăng danh sách băng cách chọn lựa từng địa chỉ một từ danh sách trước đó được quản lý kém hoặc danh sách được bạn mua về sẽ mang lại kết quả như mong đợi.

Điểm then chốt là đây: Chất lượng email sẽ được tưởng thưởng và ngược lại. Ngày nay, ISPs sử dụng bộ lọc mail rất tinh vi có thể dễ dàng nhận ra người gửi, người muốn nhanh chóng tìm ra một số lượng lớn các địa chỉ email và không quan tâm đến việc xây dựng mối quan hệ marketing lâu dài với những khán giả có lựa chọn.

Hãy chứng minh cam kết về chất lượng của bạn bằng cách tạo ra những nội dung hấp dẫn mà người đọc chắc chắn sẽ đánh giá cao.

Chứng minh cam kết của bạn đối với chất lượng bằng việc viết ra nội dung hấp dẫn mà người đọc sẽ chắc chắn đánh giá cao.

Những câu slogan hay nhất mọi thời đại (part 3)

•Tháng Mười Một 1, 2009 • Để lại phản hồi

Khẩu hiệu giúp bán tốt hơn những sản phẩm không đắt tiền, có chút ít yếu tố rủi ro và được mua theo kiểu bốc đồng. Khẩu hiệu tóm tắt sứ mệnh của công ty trong vài từ cô đọng và khắc vào tâm trí khách hàng một ý niệm đơn giản về sản phẩm. Khẩu hiệu cũng mang lại sự thống nhất khi sử dụng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. Khẩu hiệu mang tính sống còn trong phương diện chính trị.

winston_phallic

Những khẩu hiệu tốt thường dễ được thuộc lòng, nghĩa là nó phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc. Như lời của Kevin Clancy, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành của công ty tư vấn Marketing CopernicusTạo ra một khẩu hiệu nghĩa là tìm ra hai hay ba từ hoặc cụm từ và ghi khắc nó vào tâm trí người tiêu dùng. Nếu bạn thành công, mọi người sẽ quyết định mua sản phẩm của bạn một cách vô thức và luôn bàn về sản phẩm với những người tiêu dùng khác“.

Một khẩu hiệu tốt phải có khả năng đẩy sản phẩm gần hơn đến thành công. Khi nhà sản xuất nước giặt quần áo Wisk giới thiệu câu khẩu hiệu “Tẩy sạch vết dơ quanh cổ” (ring around the collar) lần đầu tiên, doanh số sản phẩm gấp ba lần ngay sau sự trợ lực đáng kể về mặt quảng cáo sản phẩm.

Intel tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành công nghệ thông tin bằng việc đầu tư 6% doanh thu cho quỹ phát triển khẩu hiệu Intel. Chiến lược quảng cáo bắt nguồn từ sản phẩm X386. Kể từ đó Intel bắt đầu dùng câu khẩu hiệu “Intel. The Computer inside” (sau này trở thành “Intel inside”). Gần như cùng thời gian này, IBM là nhà sản xuất máy vi tính đầu tiên dùng logo Intel trên sản phẩm của mình. Tính từ lúc bắt đầu tung ra chiến dịch, Intel hưởng lợi khoảng 11 tỷ đô la từ chiến dịch quảng cáo và câu khẩu hiệu nổi tiếng của mình.

Cần phải nhấn mạnh rằng một chiến dịch quảng cáo thành công duy trì cùng một khẩu hiệu, hình ảnh và cá tính thương hiệu một cách thống nhất qua nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Như Ron Kovas, Chủ tịch công ty quảng cáo J. Walter Thompson từng nói: “Một chiến lược quảng cáo đáng giá là chiến lược không có thay đổi đáng kể, mà chủ yếu xây dựng và củng cố giá trị và hình ảnh thương hiệu năm này qua năm khác”. Ý tưởng “những thứ tốt hơn cho cuộc sống đẹp hơn” (better things for better living) của chiến dịch DuPont tồn tại sau 55 năm. “Sự lựa chọn của thế hệ mới” (Pepsi generation) của Pepsi tung ra năm 1963 và vẫn được dùng cho tới hôm nay. Khẩu hiệu của Hallmark “Khi bạn thật sự quan tâm gửi đi những điều tốt đẹp nhất” (When you care enough to send the very best) đã được dùng kể từ năm 1956.

Những chuyên gia cho đến nay vẫn phải thừa nhận nguyên nhân Winston mất thị phần vê tay Marlboro là sự thay đổi liên tục hình thức quảng cáo của mình. Winson thay đổi 5 câu khẩu hiệu trong vòng 10 năm, trong khi Marlboro tập trung vào đối tượng mục tiêu của mình, mày râu, và định câu khẩu hiệu theo hướng “vùng đất Marlboro” (Marlboro country).

1954: Vị Winston tuyệt hảo của thuốc lá (Winston takes good like a cigarette should).

1971: Winston và tôi (Winston and me).

1971: Ngon ghê chưa (how good is it).

1974: Nếu không phải là Winston thì chẳng nên hút nữa (if it wasn’t for Winston, I wouldn’t smoke).

1974: Có nhiều lý do để hút Winston (There’s a lot of good…between Winston and shoudl).

1974: Tôi hút vì ngon (I smoke for taste).

1979: Màu đỏ lớn (Big red).

1979: Tốt nhất Mỹ (America’s best).

1985: Đàn ông Mỹ (Men on America).

1985: Vị đích thực. Đàn ông đích thực (Real Taste. Real People).

1989: Vị chiến thắng (Winning taste).

marlboro

Marlboro hiện vẫn là thương hiệu thuốc lá bán chạy nhất toàn cầu. Trong khi Winston ngày càng mất dần thị phần của mình.

Larry Light, Phó chủ tịch Tập đoàn McDonald từng nói “Sai lầm đáng sợ nhất là thương hiệu bị thay đổi cá tính hàng năm. Điều này sẽ dẫn đến một cá tính thương hiệu dị thường hoặc chẳng có cá tính nào cả“.

Những câu slogan hay nhất mọi thời đại (part 2)

•Tháng Mười Một 1, 2009 • Để lại phản hồi

Kinh nghiệm cho thấy cách tốt nhất để thành công trong một thị trường hàng hóa gần như là bão hòa hiện nay là cố gắng định vị sản phẩm và sống với định vị đó càng lâu càng tốt.

brand

Để ngày càng thành công hơn, bạn phải tập trung vào một nhóm khách hàng cụ thể. Nếu tính về số lượng, có thể nhóm khàng hàng mục tiêu không phải là tổng thể thị trường. Tuy nhiên, trước tiên bạn phải chắc là thương hiệu của mình thực sự đặc biệt đối với nhóm khách hàng mục tiêu đó“, theo lời của Barry Crossland, Giám Đốc Marketing của Nestle.

Có thể định vị một sản phẩm là rất khó, nhưng thay đổi một định vị hiện hữu cũng không dễ dàng chút nào, có thể nói là rất khó khăn để thay đổi một hình ảnh tiêu cực về sản phẩm. Sear cố gắng thay đổi hình ảnh thương hiệu cũng như gia tăng lợi nhuận năm 1974 bằng cách tăng giá hàng may mặc nữ. Doanh thu giảm hẳn 28% và Sears phải từ bỏ dự án này.

Một ví dụ khác về Black & Decker. Mặc dù công ty luôn thành công với những sản phẩm mới tung ra thị trường, công ty vẫn phải đối mặt với vấn đề về hình ảnh công ty. Bạn có thể nghe phản hồi của một người tiêu dùng dụng cụ máy cầm tay như “Công ty này đã từng rất tốt. Nhưng bây giờ nó sản xuất thêm cả máy rang bắp và máy nướng bánh mì”, Ellen Foreman, Giám đốc Quảng Cáo và Truyền Thông của Black & Decker đã chia sẻ như vậy.

Dĩ nhiên, thành công của một định vị đôi không phụ thuộc vào vấn đề thời điểm. Năm 1998, Procter & Gamber tung ra thị trường thành công loại tả giấy Luvs dành cho bé trai và bé gái. Thật ra ý tưởng định vị tả giấy dựa vào giới tính trước đó đã được thử nghiệm bởi Scott Paper vào những năm 1970 nhưng chỉ dành được những thành công rất hạn chế.

Luôn phải khôn ngoan để không định vị sản phẩm theo phong trào hay những sự yêu thích nhất thời. Năm 1988, những sản phẩm trong suốt như bia, lăn khử mùi, dầu gội đầu, nước rửa chén và nước ngọt đã tràn vào thị trường như vũ bão. Người tiêu dùng lúc bấy giờ so sánh chất lượng sản phẩm với chuẩn tinh khiết, trong suốt, dịu nhẹ, hay thân thiện với môi trường. Bốn năm sau đó, sự yêu thích các sản phẩm trong suốt bắt đầu hêt thời. Người tiêu dùng bắt đầu ngại trả tiền cao hơn chỉ để có sản phẩm ít thành phần, nguyên liệu sản phẩm hơn. Theo báo cáo của Kathleen Deveny của tờ Wall Street Journal. Sản phẩm trong suốt đã chết.

Nếu bạn quyết định thay đổi định vị sản phẩm, hãy tiến hành thận trọng từng bước. Và bắt đầu bằng việc thay đổi bao bì sản phẩm.

Chuỗi cửa hàng Tim Hortons đối mặt với một vấn đề về định vị vài năm trước. Người tiêu dùng cho rằng cửa hàng chỉ bán bánh rán (trong khi cửa hàng có bán cả súp và bánh mì). Để giải quyết vấn đề, từ “bánh rán” đã được lấy ra khỏi tên cửa hàng để mọi người nhận thức về các sản phẩm khác ở cửa hàng.

Để tìm hiểu sâu thêm về chủ đề định vị, khuyến khích bạn tìm đọc cuốn Định vị, trận đấu trí não (Positioning: The battle for your mind), tác giả AI Ries và Jack Trout.

t0hqif

Khẩu hiệu sản phẩm là yếu tố thứ năm của định vị thành công. Như Andre Gide từng nói “Khẩu hiệu là những cuộc chiến khốc liệt nhằm mang mọi người đến gần nhau hơn“. Một khẩu hiệu tốt có khả năng khuyến khích mọi người hành động.

Rất nhiều khẩu hiệu thất bại vì nó quá chung chung, không đủ khả năng định vị một sản phẩm. Sau đây là những ví dụ:

- “Không gì có thể di chuyển bạn như Mercury” MercuryNothing moves you like a Mercury.

- “Thỉnh thoảng cũng nên phá lệ một chút” Burger KingSomtimes you’ve gotta break the rules.

- “Tôi yêu những gì bạn làm cho tôi, Toyota” ToyotaI love what you do for me Toyota.

- “Tinh thần mới của Dodge” DodgeThe new spirit of Dodge.

- “Được tạo ra cho cuộc đua của loài người” NissanBuilt for the human race.

- “Biết thêm về Geo” GeoGet to know Geo.

- “Đơn thuần là cảm thấy tuyệt” vời Marda - It just feels right.

- “Nghệ thuật của du lịch” Louis VuittonThe art of travel.

- “Nghệ thuật của viết lách” Mont BlancThe art of writting.

- “Nghệ thuật của sự độc đáo” CartierThe art of being unique.

- “Nghệ thuật của thời gian chính xác” Ballantine’s scotch - The art of perfect timing.

- “Nghệ thuật của khoa học kỹ thuật” AudiThe art of engineering.

- “Mang tương lai đến gần bạn” AmeritrustBringing the future to you.

- “Vấn đề về hiệu suất” KodakPerformance that counts.

- “Đam mê sự hoàn hảo” Lufthansa - A passion to perfection.

- “Nơi ý tưởng thành hiện thực” Ricoh - Where imagination becomes reality.

- “Vì hôm nay không phải là hôm qua” Bankers Trust Co - Because today isn’t yesterday.

- “Hình ảnh của tương lai” Anacomp - The image of the future.